Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Mực nháy nướng Cửa Lò

Món mực nháy nướng (“Mực nháy” có nơi còn gọi là mực nhảy, tên gọi này dùng để chỉ những con mực được ngư dân vừa bắt lên khỏi nước biển còn nguyên độ tươi và được đưa vào chế biến và thưởng thức ngay tại chỗ khi còn tươi nguyên) ở Cửa Lò từ lâu đã hấp dẫn du khách khi đến xứ biển. Mực ở đây tươi ngon, khi mới câu lên có màu trắng trong. Sau khi sơ chế, người ta cho những con mực tươi mới ấy lên bếp than hoa rực hồng rồi nướng. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã từng công bố 10 đặc sản hải sản Việt Nam trong hành trình tìm kiếm, quảng bá đặc sản và ẩm thực Việt Nam lần thứ 1/2012 trong đó có mực nháy.
Hương thơm lừng của món mực nháy nướng quyến rũ bất cứ ai thưởng thức (Ảnh: Internet)
Hãy cứ thử tưởng tượng, sau khi đắm mình trong làn nước biển xanh mát, bao la, tận hưởng những cơn gió mặn mòi của biển rồi nằm dài trên chiếc ghế ở một quán ven đường, hít hà mùi thơm của mực nướng, từ từ nhâm nhi những miếng mực giòn giòn chấm với gia vị, thậm chí chỉ cần tương ớt thôi đã là quá tuyệt. Cuộc sống dường như lắng lại để con người tận hưởng hết những tinh hoa của biển cả, chỉ có gió và sóng cứ ồn ào, xô mãi không thôi.
Ngoài ra, ở Nghệ An còn có nhiều món ăn ngon như mọc cua bể, ghẹ hấp me, cá giò bảy món, cháo nghêu (Cửa Lò), bánh ngào... Mỗi món ăn đều tạo nên đặc trưng riêng của mảnh đất này.

Tương Nam Đàn

Nếu như mảnh đất Hưng Yên nổi tiếng với thứ tương Bần thơm ngon, tinh khiết thì trên mảnh đất Nam Đàn xứ Nghệ, người ta cũng có quyền tự hào vì đã làm ra một loại tương hấp dẫn không kém.
Nguyên liệu chính để làm tương đều là những thứ gần gũi, thân thiết với cuộc sống hàng ngày nhu đậu nành, nếp hoặc ngô, muối và nước. Nếu vô tình hoặc cố ý cho thêm một thứ gì vào, chum tương sẽ bị hỏng. Để có được chum tương ngon, đòi hỏi ở người làm tương sự kỳ công, tỷ mẩn.
Nếu có dịp qua mảnh đất này, bạn hãy mang về cho mình, người thân hoặc bạn bè một chút hương vị tương giản dị này nhé!
Tương Nam Đàn lại có đủ hai loại: Mặn và ngọt. Tương mặn dùng để ăn hàng ngày, còn tương ngọt làm vào những chĩnh nhỏ chủ yếu để đãi khách và làm quà biếu. Nghe nói, tương Nam Đàn được làm bằng thứ đỗ tương xuân hè trồng trên chính đất Nam Đàn và hưởng khí, đất đai hậu thuận lợi. Có lẽ, được sản sinh từ mảnh đất phù sa màu mỡ mà đã cho ra đời thứ đậu tương hảo hạng.
Thế mới hiểu vì sao, ở xứ Nghệ, người ta hay truyền tai nhau rằng, muốn ăn nhút Thanh Chương thì trước tiên phải tìm được tương Nam Đàn. Hai thứ ấy kết hợp với nhau thì bữa cơm dù đạm bạc đến mấy vẫn ngon đến vô cùng.
Trong một chai tương Nam Đàn có tới ba tầng khác nhau nếu nhìn từ ngoài vỏ. Tầng trên cùng là đậu hạt mới chỉ được dập vỡ làm đôi. Tầng giữa là nước tương có màu Hổ Phách, còn tầng dưới cùng là mốc tương có màu vàng thẫm. Nếu có dịp qua mảnh đất này, bạn hãy mang về cho mình, người thân hoặc bạn bè một chút hương vị tương giản dị này nhé!



Lươn Vinh

Lươn vốn là loại thủy sản nước ngọt có ở hầu hết đồng ruộng trên đất nước Việt Nam. Nhưng dưới bàn tay khéo léo cùng văn hóa ẩm thực đặc trưng của những người con xứ Nghệ, các món ngon từ lươn lần lượt ra đời và dần trở thành đặc sản, tinh hoa của mảnh đất này.
Để chế biến một món ăn ngon, khâu sơ chế lươn rất quan trọng. Người chế biến loại bỏ chất nhớt bằng nhiều kinh nghiệm khác nhau như dùng tro, giấm, nước sôi hoặc dùng một số lá có độ thô như lá tre để tuốt các chất nhờn trên da lươn. Tùy theo yêu cầu của món nấu mà có thể để nguyên con, rút xương hay cắt khúc. Khâu rút xương cũng có 2 phương pháp. Hoặc cắt khứa từ cổ rồi lạng dần xuống. Hoặc đặt thân lươn lên thớt, dùng chày gỗ dần lên, rồi lộn ngược bên trong, lạng bỏ phần xương.
Cháo lươn cũng là một đặc sản khó cưỡng.
Sau khi sơ chế xong, người ta chế biến lần lượt thành những món ăn mà món nào món nấy đều hút hồn thực khách đến nỗi phải quay lại quán biết bao nhiêu lần. Chẳng hạn như lươn om (om chuối, om lá ngải cứu, om rau ngổ, om lá lốt, om nồi đất...), cháo lươn, lươn nướng, súp lươn... Lươn nướng than hoa là một trong những món ăn được đặc biệt ưa chuông. Mùi thơm của lươn nướng bay tỏa trong không trung khiến chẳng ai có thể cầm lòng được.
Súp lươn cũng là món hấp dẫn không kém. Bát súp có lượng nước trong, ngọt, thơm, những miếng thịt lươn chín còn nguyên dạng, không nhũn nát, thấm vị và dậy lên hương đặc trưng của lươn quê. Hành lá, rau răm còn nguyên sắc xanh tươi thắm được cắt nhỏ, thả bồng bềnh trên mặt nước nóng hổi điểm nhẹ những giọt ớt đỏ. Hơi bay lên kéo theo mùi hương thơm, cay, nồng khiến chưa ăn miệng đã thấy thèm.


Nhút Thanh Chương

Có lẽ, mít xanh là thứ quả gắn với tuổi thơ rong ruổi của rất nhiều người. Những quả mít non được hái xuống, rồi đem luộc, chấm với muối ớt, mặn chát, nghẹn trong cổ họng mà bao đứa trẻ vẫn khao khát và thích thú. Còn với người Thanh Chương xứ Nghệ, việc chế biến mít xanh thành món ăn như dưa muối lại là nghệ thuật vô cùng độc đáo. Món ăn làm từ mít xanh đó được gọi là nhút. Nhiều người còn coi nhút chính là một loại "kim chi" của xứ Nghệ này.

Những quả mít xanh được chế biến thành nhút (Ảnh: Internet)
Nghe nói, nghề làm nhút ở Thanh Chương có từ lâu đời, là thức ăn dân dã và phổ biến của mọi gia đình. Nguyên liệu để làm nhút chỉ gồm có mít xanh và muối trắng và cách làm tương tự như nhiều món dưa muối khác ở Việt Nam.
Để làm nhút, người ta lựa những quả mít xanh, loại ương ương càng ngon rồi gọt sạch vỏ ngoài, rửa cho hết nhựa sau đó bỏ vào nong hoặc nia, dùng dao băm hoặc thái thành từng sợi. Muối được cho vào, trộn đều rồi bỏ vào cối giã sơ qua, dùng tay vò cho mềm ra. Cuối cùng mít được cho vào vại sành khoả đều trên bề mặt, đặc một chiếc vỉ lên trên, chèn đá cho nén xuống, đổ nước muối loãng vào cho ngập vỉ, đậy nắp che bụi, ủ khoảng 5-6 ngày là dùng được.
Nhút là món ăn hàng ngày giản dị nhưng lại trở thành đặc sản của xứ Nghệ (Ảnh: Internet)
Hàng ngày trong mỗi bữa cơm, người ta lấy ra bát nhút, hương vị chua chua giòn giòn, ăn thật thích thú. Nhút ăn với cơm rất hợp, chỉ cần chút nước mắm làm nước chấm là đủ.

Ốc núi đá

Thiên nhiên đã tạo cho Ninh Bình thêm một món ăn đặc, sản đó là thứ mà hiếm khi lại sống ở trên núi: Ốc. Loại ốc núi này có ở nhiều nơi trong tỉnh Ninh Bình nhưng nó sinh sản và sống tập trung nhiều nhất ở Tam Điệp, Yên Mô, Nho Quan. Ốc núi thường chỉ xuất hiện trong tiết trời mùa mưa ẩm ướt, từ tháng 4 đến tháng 8. Và thời gian còn lại trong năm, chúng thường vùi mình dưới đất, trong các khe đá hay dưới những lớp lá dày.

Thịt ốc núi dai dai, giòn giòn và ngọt rất hấp dẫn. Người sành ăn ốc núi thường ăn cả ruột bởi như thế mới cảm nhận hết được vị mát lành, thú vị thứ đặc sản dân dã này.
Thịt ốc núi dai dai, giòn giòn và ngọt rất hấp dẫn. Người sành ăn ốc núi thường ăn cả ruột bởi như thế mới cảm nhận hết được vị mát lành, thú vị thứ đặc sản dân dã này (Ảnh: Internet)
Ngoài ra, Ninh Bình còn nổi tiếng với những món ăn ngon như mắm tép Gia Viễn, bún mọc Phát Diệm, canh chua cá rô, miến lươn, vịt giả cầy, cá nướng rơm mùa gặt, xôi trứng kiến... Và mỗi món ăn ấy nó góp phần làm nên sự độc đáo, thú vị của mảnh đất núi đá, hoang sơ này.
Nếu có dịp đến Ninh Bình, bạn hãy mang về cho gia đình, bạn bè một món quà đặc sản của nơi đây nhé! Chắc chắn, chẳng ai có thể quên được hương vị đậm đà hòa quyện trong từng món đặc sản, những thứ làm nên sức sống ẩm thực tiềm tàng của con người trên mảnh đất cố đô xa xưa.

Nem chua Yên Mạc

Nem chua vốn là đặc sản nổi tiếng nhất của người Thanh Hóa nhưng đến với Yên Mạc, thuộc huyện Yên Mô của mảnh đất Ninh Bình, thực khách cũng sẽ không khỏi bất ngời bởi nem chua nơi đây có độ ngon không kém.

Nem chua Yên Mạc có đã có từ lâu đời nhưng hiện tại, số người làm được loại nem đặc biệt này không nhiều. Nem làm phải  đảm bảo đ­ược độ khô, tơi (trong khi đó nem chua Thanh Hoa  thành một khối gắn kết, không tơi) mà vẫn giữ được độ mềm dẻo thơm ngon. Ngư­ời ta thường chọn thịt ở phần đùi mông sau hoặc phần trên dọc theo sống l­ưng thịt thăn của con lợn để làm. Thịt nạc đ­ược lọc kỹ, thái mỏng ngang thớ, bỏ vào cối giã nhuyễn. Trong nem trộn một chút sợi bì lợn theo tỷ lệ thích hợp, sợi bì thái mỏng trộn đều kết dính chặt với thịt nạc nổi nét trên nền hồng hào của thịt nạc trông thật đẹp mắt hấp dẫn.
Ăn nem ngon nhất với lá sung, ổi, hay đinh lăng... rồi chấm vào trong bát nước mắm chanh, tỏi, ớt,... Mọi hương vị cứ như được cô đọng nơi đầu lưỡi tạo thành dư vị khó quên (Ảnh: Internet)
Nem chua Yên Mạc thường được bọc qua một lớp lá ổi cho thơm rồi mới đến lớp lá chuối tươi, dày. Nem được gói chặt và kín để có thể nhanh chóng lên men. Làm nem chua kì công như thế nhưng người ta cũng chỉ hào hứng nhất là khi thưởng thức. Những cặp mắt đầy thèm thuồng cứ dính chặt vào đôi tay đang chậm rãi bóc từng lớp, từng lớp lá chuối ra. Khi chiếc lá cuối cùng được trút xuống, lộ ra thứ thịt nem đỏ hồng, mùi chua chua thơm thơm thật tuyệt. Nem tơi, rời vô cùng hấp dẫn. Ăn nem ngon nhất với lá sung, ổi, hay đinh lăng... rồi chấm vào trong bát nước mắm chanh, tỏi, ớt... Mọi hương vị cứ như được cô đọng nơi đầu lưỡi tạo thành dư vị khó quên.


Gỏi cá nhệch Kim Sơn

Đến mảnh đất Kim Sơn của Ninh Bình, bạn không chỉ được nhấm nháp vị cay nồng của rượu mà còn được thưởng thức đặc sản gỏi cá nhệch vô cùng tươi ngon, hấp dẫn. Gỏi cá nhệch vốn nổi tiếng ở Tràng Cát, Hải Phòng tuy nhiên đến đây, bạn cũng sẽ được thưởng thức những đĩa gỏi cá thơm ngon không kém. Theo người dân nơi đây, cứ vào mùa mưa ngâu độ 2 tháng là mùa đi bắt cá nhệch. Cá nhệch cùng họ với lươn nhưng nhệch sống ở nơi nước hơi mặn (nhệch củ) và sống ở nước lợ (nhệch khét). Nhệch củ to ngang, nhệch khét dài. Cá nhệch giống lươn về độ dài, nhưng bề ngang lại giống cá chình. Cá nhệch có con dài hàng mét, con nhỏ 3 - 4 lạng, con to nặng tới cả kilôgam. Cá nhệch trơn và dữ tợn, nên đánh bắt không dễ dàng.
Làm món gỏi cá nhệch không khó nhưng dưới bàn tay điêu luyện của người dân Kim Sơn, gỏi cá nhệch lại trở thành đặc sản (Ảnh: Internet)
Làm món gỏi cá nhệch - đặc sản Ninh Bình - không khó nhưng dưới bàn tay điêu luyện của người dân Kim Sơn, gỏi cá nhệch lại trở thành đặc sản. Theo kinh nghiệm của những người hay làm món gỏi này thì để gỏi không bị tanh, sau khi bắt cá về, người ta phải lấy nước vôi, nước tro, lá tre hóp tuốt sạch chất nhờn trên da.
Mổ cá cũng hơi khác bình thường một chút, bạn phải mổ cá đằng sống lưng như mổ lươn để lọc xương. Thịt cá tươi cắt thành lát có màu hồng giống màu thịt cá quả vô cùng bắt mắt. Còn thính được làm bằng gạo nếp rang, giã nhỏ mới có mùi thơm và bùi. Khi mọi thứ xong xuôi, bạn phải thật nhanh tay trộn thịt cá với thính cho thơm thịt.
Còn riêng da cá được đem rán giòn rồi cuộn với gỏi khi ăn. Một điều thú vị xương cá sau khi lọc không hề bị bỏ đi mà được đem giã nhuyễn để nấu dấm. Món dấm được pha chế với gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu và sả băm nhỏ. Dấm phải có màu đỏ sậm, đặc sánh, dậy mùi gia vị, khi tưới dấm vào gói gỏi ăn, không bị chảy ra tay. Gỏi được ăn kèm với bánh đa vừng, cùng các loại lá như dấp cá, mùi tàu, sung, đinh lăng, mơ lông...


Cơm cháy

Cơm cháy ở mảnh đất Ninh Bình là một trong những món ăn thể hiện được sự tinh túy của hạt gạo mà không khoa trương, không quá nhiều biến tấu. Nghe nói cơm cháy Ninh Bình có một lịch sử khá lâu đời.
Tương truyền, từ thời Pháp thuộc cuối thể kỷ 19, ở Ninh Bình có người thanh niên trẻ tuổi tên Hoàng Thăng ra Hà Nội làm công cho một hiệu ăn lớn của người Hoa. Hoàng Thăng đem lòng yêu con gái ông chủ nhưng bị nhà chủ phản đối. Do không lấy được con gái ông chủ, Hoàng Thăng bỏ việc, trở về quê nhà. Trong thời gian làm việc tại hiệu ăn, Hoàng Thăng đã học được không ít bí quyết chế biến các món ngon, ông đã sáng tạo xây dựng một nhà hàng ăn chuyên về cơm cháy. Sau này, Đinh Hoàng Thăng lại được ông chủ cũ mời cộng tác mở nhiều nhà hàng mới và gả con gái cho. Từ đó, món cơm cháy thơm ngon do ông làm ra luôn gắn liền với câu chuyện tình yêu cảm động.
Cơm cháy ở mảnh đất Ninh Bình là một trong những món ăn thể hiện được sự tinh túy của hạt gạo, mà không khoa trương, không quá nhiều biến tấu (Ảnh: Internet)
Để làm cơm cháy đòi hỏi người chế biến phải thật sự tinh tế và tỉ mỉ. Gạo được nấu lên sao cho thật vừa nước, đủ dộ dẻo. Khi cơm chín tới phải nhanh lấy hết ra chỉ để lại phần xém dưới đáy nồi. Rồi tiếp tục đun, lúc này vừa đun phải vừa, người nấu xoay tròn nồi cho cơm chín đều và tạo thành một lớp cháy đều. Tiếp đó, người ta lấy những miếng cháy này ra khỏi nồi bẻ vừa vặn và đem phơi (hoặc sấy) cho thật khô để dễ bảo quản. Khi thưởng thức cơm sẽ được rán giòn. Trong quá trình rán, món cơm cháy có thể được tẩm ướp với một số loại gia vị sao cho đậm đà nhất, thơm ngon nhất. Một số người còn thích phủ một lớp ruốc bông trắng ngà lên cơm cháy, ăn vô cùng hấp dẫn.
Những miếng cơm cháy không hề khô khan mà cứ giòn tan trong miệng, thơm ngon mà phảng phất chút hoang sơ quyện trong từng hạt gạo (Ảnh: Internet)
Với loại cơm cháy không tẩm ướp sẽ được đem chấm kèm với một thứ nước sốt sóng sánh của vị nước mắm, mỡ hành, ruốc… Những miếng cơm cháy không hề khô khan mà cứ giòn tan trong miệng, thơm ngon mà phảng phất chút hoang sơ quyện trong từng hạt gạo.



Thịt dê núi đá

Thịt dê Ninh Bình ngon hơn thịt dê các vùng khác bởi lẽ, dê ở đây chủ yếu được nuôi ở trên những dãy núi đá vôi, ăn đa dạng các loại lá cây, cho nên thịt ngon và săn chắc. Và hơn thế, người Ninh Bình cũng có bí quyết nuôi riêng nên món thịt dê đã sớm trở thành đặc sản nổi tiếng khắp cả nước.
Người Ninh Bình cũng có bí quyết nuôi riêng nên món thịt dê đã sớm trở thành đặc sản nổi tiếng khắp cả nước (Ảnh: Internet)
Thịt dê - đặc sản Ninh Bình -  được chế biến thành rất nhiều món khác nhau, và dưới bàn tay chế biến kì diệu của những con người vùng núi đá này mà mỗi món đều có hương vị thơm ngon, hấp dẫn riêng. Như dê tái chanh, tiết canh, dê né, lẩu dê, áp chảo, dê nướng, cháo, sốt vang, xào lăn… Khi thưởng thức, thực khách không chỉ thích thú các món ăn mà còn say mê cả thiên nhiên khoáng đạt pha lẫn chút hoang sơ của nơi này.
Các món tái dê đầy quyến rũ của Ninh Bình (Ảnh: Internet)
Trong các món ăn về dê thì tái dê chấm với tương Bần, ăn kèm với rau thơm các loại là món nhiều người yêu thích. Có ba loại tái dê là tái nhúng, tái lăn và tái vừng. Trong đó món tái vừng là ngon nhất vì nó có nhiều gia vị và đặc biệt có thêm vị béo và mùi thơm nức của lạc rang.
Nguyên liệu để làm món tái dê tất nhiên không thể thiếu thịt dê, riềng, khế, sả, chuối xanh, sung quả, vừng rang, tương. Để món tái dê ngon thì phải biết cách chọn thịt dê. Thịt để làm tái phải có da có thịt, nguyên thịt nạc không cũng không ngon. Thường thịt hai vách hông (ở con lợn là thịt ba chỉ) là thịt thích hợp nhất với món tái. Nó có da dai mà mềm, có chút mỡ nhưng không ngấy, có thịt nạc nhưng không khô và xơ.
Tái dê chấm với tương gừng (chua, ngọt, cay, nồng), ăn kèm với rau thơm các loại như lá mơ, sung, húng các loại, ngổ đất, bánh đa giòn thơm... Gần đây người ta dùng bánh lá nem để gói ăn cũng thú vị.



Rươi

"Tháng 9 đôi mươi, tháng 10 mùng 5", câu ca này ông cha ta dành để nói về con Rươi, một sản vật quý hiếm của vùng đất Hải Dương. Theo từ điển tiếng Việt, rươi thuộc họ nhà giun, thân có nhiều lông tơ nhỏ, sinh theo mùa, ở vùng nước lợ. Cứ 20 tháng chín và mồng 5 tháng 10 âm hàng năm là mùa rươi xuất hiện nhiều.
Ở Hải Dương, rươi chỉ có ở các huyện Thanh Hà, Tứ Kỳ. Nghe nói, con rươi vốn chẳng ai nuôi được. Ngày bình thường, nếu có đi đào khắp các ruộng cũng chẳng thể thấy bóng dáng nhưng đến vụ, khi nước chiều dâng lên ngập các ruộng, đất trời vần vũ là rươi chuẩn bị ra. Nhưng thế vẫn chưa đủ dụ dỗ hết con vật khó tính này. Chúng còn đợi trời mưa lất phất, khi ấy, người già bảo lỗ rươi đã mở, những con vật bé tí từ dưới lòng đất chui lên từng đàn bơi ra sông. Chỉ đợi có thế, người dân trong làng chỉ việc bơi thuyền ra, dùng các loại dụng cụ như thúng, rổ, giá ra vớt.
Món nem được làm từ rươi
Rươi là con vật có hình dạng xấu xí, lúc nhúc, nhiều người vẫn hoảng sợ mỗi khi nhìn thấy nhưng nó lại có thể cho ra đời rất nhiều món ăn ngon, hấp dẫn khiến ai cũng phải mê mẩn như bánh rươi, nem rươi, chả rươi, lẩu rươi… thậm chí có nhiều nhà hàng còn chế biến được rươi thành 9 món. Trong đó, đa số người ăn chế biến rươi thành chả.
Nguyên liệu làm chả rươi bao gồm rươi, thịt lợn xay nhuyễn, trứng gà, vỏ quýt, hành hoa, thì là, một chút ớt tươi giã nhỏ chủ yếu lấy mùi chứ không để quá cay. Gia vị khi ăn có hạt tiêu bột, nước mắm pha chanh, ớt. Rươi làm chả, làm nem, ăn chơi chứ không kèm với bún hay gì khác. Rươi vừa rán, béo ngậy, thơm mùi thì là, đắng đắng vỏ quýt, cay nhẹ, tuyệt ngon, là món ăn hảo hạng của những ngày cuối thu xứ Bắc.
Ngoài ra, Hải Dương còn nổi tiếng với cam Phù Tải, cau Đông, hành tỏi Kinh Môn, bánh dày cùng giò, chả Gia Lộc, nếp cái hoa vàng Kim Thành, na dai, chuối mật Chí Linh, bánh đa Kẻ Sặt - Bình Giang...

Bún cá rô đồng

Bún cá rô đồng gần như nơi nào cũng có nhưng có lẽ ở Hải Dương bạn sẽ được trải nghiệm hương vị mới lạ hơn! Cá rô béo mua về sau khi làm sạch sẽ được chia làm hai phần, một phần dành nấu nước dùng, một phần dành để bày ra tô. Nước dùng chỉ thuần túy cá rô, không thêm xương heo, cứ một phần cá tươi thì hai phần rưỡi nước nấu cho đến khi nào thịt và xương cá rã ra, nồi nước trong leo lẻo và đậm đà vị ngọt của cá thì đạt yêu cầu. Người ta cũng bỏ vào nước dùng sau khi nấu một ít gừng tươi đập dập cho mùi thơm thêm phần quyến rũ cũng như là át bớt mùi tanh của cá.
Nếu như cá rô ở các nơi khác được đem chiên giòn thì cá để nấu bún ở Hải Dương lại được chế biến hoàn toàn khác. Những con cá được dành phần lại được luộc chín, bóc thịt ra riêng. Sau đó xào cùng chút hành tím, nước mỡ cho thơm. Có lẽ, sự khác biệt trong chế biến này chính là điểm làm nên đặc sản của bún cá rô đồng nơi đây.
Bún cá rô đồng gần như nơi nào cũng có nhưng có lẽ ở Hải Dương bạn sẽ được trải nghiệm hương vị mới lạ hơn (Ảnh: Internet)
Khi cá xào xong, bún được bóc ra tô, sắp lên ít thịt cá đã xào thơm, thêm ít hành tiêu, chan vào nước dùng nóng. Sau đó dọn ra bàn cùng với nước mắm nguyên chất có vài khoanh ớt cùng đĩa rau thơm, bông chuối, rau muống là đã có một bữa ăn ra trò. Được đến vùng đất Hải Dương bạn đừng quên thưởng thức món ăn tuy dân dã nhưng cũng không kém phần công phu này nhé.

Vải Thanh Hà

Cứ vào độ cuối tháng 5, đầu tháng 6, khi những cái nắng hè rực lửa trải tràn lên mặt đất ấy cũng là lúc những trái vải đỏ sậm Thanh Hà vào mùa thu hoạch. Nhiều người cứ ví von, nếu như nhìn từ trên cao xuống, màu xanh của lá cây bị màu đỏ của quả lấn át, trông giống như một đĩa xôi nhuộm màu thật khéo.
Vải Thanh Hà vô cùng thơm ngon (Ảnh: Internet)
Nghe nói, vải thiều vốn có nguồn gốc Trung Quốc do ông Hoàng Văn Cơm thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đem về gây giống. Cây vải tổ do ông trồng hiện có độ tuổi khoảng gần 200 năm. Như có sự ưu ái của đất trời, thiên nhiên với mảnh đất Thanh Hà, giống vải tốt gặp đất phì nhiêu đã cho ra một sản vật nổi tiếng có một không hai. Dân địa phương đã nhân giống từ cây này. Ngày nay, vải thiều được nhân giống sang một số nơi khác trên cả nước như Lục Ngạn - Bắc Giang, Chí Linh - Hải Dương và nhiều địa phương khác...
Vải thiều Thanh Hà có đặc điểm là quả nhỏ, vỏ sần, chín màu đỏ, hạt rất màu đen tuyền hoặc không hạt, cùi trắng dày ăn rất ngọt, hương vị thơm đặc biệt. Vải ra hoa vào tháng 3 dương lịch và chín vào tháng 6. Chính vì thơm ngon như vậy mà vải Thanh Hà sớm trở thành một đặc sản không thể thiếu ở nơi đây và được đem bán đi bao vùng khác. Mùa hè, dù sợ nóng đến mấy nhưng khi nhìn thấy những chùm vải chín Thanh Hà đỏ rực, chẳng ai nỡ làm ngơ. Rồi cứ thế, hết trái này đến trái khác được bóc ra, bỏ vào miệng, một cảm giác ngọt ngào lan tỏa.

Bánh gai

Nam Định vốn mới là mảnh đất sinh ra những chiếc bánh gai thơm ngon, dẻo ngọt và trở thành một thứ đặc sản tiêu biểu của đất thành Nam này. Nhưng đến với Hải Dương người ta cũng không khỏi ngỡ ngàng vì hương vị hấp dẫn của bánh gai Ninh Giang.
Bánh có vỏ làm từ bột nếp hoà với lá gai đã được giã nhuyễn làm lên sắc đen huyền mà hấp dẫn đến lạ kỳ. Gạo được ngâm trong nước lạnh qua một đêm cho hạt mọng nước, thật mẩy rồi mới để ráo nước sau đó xay nhuyễn làm bột. Từ bột ấy kết hợp với lá gai được tước gân, luộc lên rồi lại giã nhuyễn, thêm vào chút đường cho bánh có vị ngọt mới tạo thành vỏ bánh.
Bánh có vỏ làm từ bột nếp hoà với lá gai đã được giã nhuyễn làm lên sắc đen huyền mà hấp dẫn đến lạ kỳ (Ảnh: Internet)
Còn nhân bánh là tổng hợp rất nhiều nguyên liệu phải chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng. Bắt đầu từ đỗ xanh bỏ vỏ, ngâm đãi thật sạch đồng thời cho hạt đỗ mọng nước. Đem luộc đỗ lên sao cho hạt đỗ bở tơi, vừa xốp lại vừa mịn mà vẫn giữ được màu vàng óng dậy lên mùi thơm bùi đặc trưng của đỗ rồi giã nhuyễn.

Bánh đậu xanh

Bánh đậu xanh Hải Dương là một loại bánh ngọt truyền thống làm từ bột đậu xanh quết nhuyễn với đường và dầu ăn hoặc mỡ heo ra đời từ những năm đầu của thế kỷ 20.
Bánh được cắt thành các hình khối lập phương nhỏ, hoặc hình tròn... có màu sắc vàng tươi, mịn và thơm nức. Mỗi khi thưởng thức, bỏ từng miếng bánh đậu xanh vào trong miệng bạn có thể cảm nhận được những tinh túy của đất trời, hương thơm của bánh đang tan dần trong miệng mà dư âm của nó vẫn còn phảng phất mãi không thôi.
Bánh đậu xanh ngon nhất khi được thưởng thức cùng với trà xanh. Vị hơi chan chát của trà sẽ cân bằng vị ngọt đậm đà của bánh. Hai vị đối nghịch đó cứ quyện vào nhau tạo ra một cảm giác vô cùng thú vị cho người thưởng thức.
Có nhiều nơi cũng làm bánh đậu xanh nhưng bánh được sản xuất từ Hải Dương là hương vị đặc trưng nhất khiến say mê biết bao người. Chẳng thế mà bánh đậu xanh nơi đây đã trở thành một thứ quà tặng đầy ý nghĩa của hầu hết các hành khách đặt chân đến mảnh đất này và trong cả trong những dịp lễ, Tết truyền thống của dân tộc.

Bánh đậu xanh ngon nhất khi được thưởng thức cùng với trà xanh. Vị hơi chan chát của trà sẽ cân bằng vị ngọt đậm đà của bánh. Hai vị đối nghịch đó cứ quyện vào nhau tạo ra một cảm giác vô cùng thú vị cho người thưởng thức (Ảnh: Internet)

Xôi ngũ sắc của người Tày

Đến với mảnh đất mù sương này, du khách còn có thể bắt gặp những thúng xôi nhiều màu sắc sặc sỡ của người Tày được bày bán khá nhiều ở chợ. Thông thường, xôi có 5 màu: đỏ, xanh, vàng, tím và trắng vô cùng hấp dẫn. Nếu tình cờ đi qua hàng xôi ấy, mùi thơm của loại xôi được làm từ thứ gạo nương ngon dẻo của tỏa ra thơm nức, như muốn níu lấy chân người.
Nguyên liệu làm xôi ngũ sắc gồm: gạo nếp thơm dẻo, hạt đều không lẫn tẻ, trộn với các loại lá cây rừng để nhuộm màu. Màu đỏ dùng quả gấc, lá cơm đỏ. Màu xanh dùng lá gừng, lá cơm xôi xanh, hoặc vỏ bưởi, vỏ măng đắng, đốt lấy tro ngâm với nước có pha chút vôi. Màu vàng dùng củ nghệ già giã lấy nước. Màu tím dùng lá cơm đen, hoặc lá cây sau sau…

Trước khi nhuộm màu xôi, gạo nếp vo sạch đem ngâm trong nước lã từ 6 - 8 giờ để hạt gạo có độ nở vừa phải. Chia gạo ra thành 5 phần, mỗi phần tương ứng với một màu.
Sau khi nhuộm màu, đến công đoạn cuối cùng là đồ xôi. Nghe nói, khâu này đòi hỏi người nấu phải thật khéo léo mới có được món xôi như ý. Loại gạo ngâm màu nào dễ phai nhất sẽ được cho vào chõ đầu tiên, kế đến là các màu còn lại, màu trắng trên cùng. Phải đồ mỗi màu một chõ.

Cá hồi Sapa

Loại cá được nuôi tại Sapa chủ yếu là cá hồi vân, hay còn gọi là cá hồi ráng. Với khí hậu quanh năm mát mẻ và một mùa đông lạnh thậm chí có cả tuyết bao phủ, chất lượng và màu sắc của cá hồi Sapa không thua kém so với bất cứ loại cá hồi nào được nhập khẩu vào Việt Nam.
Cá có thịt chắc, thớ săn, không có mỡ, màu hồng tươi, mềm và béo ngọt rất thích hợp để chế biến thành nhiều món khác nhau như sashimi, chiên xù, hấp, nấu cari..., nhưng nổi bật nhất là các món lẩu cá hồi, gỏi cá hồi, cá hồi nướng, cháo cá hồi, cá hồi tẩm bột chiên. Mỗi món ăn đều có một hương vị gì đó rất riêng, có lẽ đó là của mây, của núi của một vùng đất hoang sơ nhưng kì vỹ tạo thành.

Đồ nướng

Đồ nướng không phải là món ăn xa lạ nhưng đến với Sapa, mảnh đất của mảng sương dày, của những cái lạnh cứ mỗi chiều buông xuống thì nó lại là một đặc sản vô cùng hấp dẫn. Các nguyên liệu dùng để nướng ở đây đều mang hương sắc của núi, của rừng, của mây mờ quanh năm che phủ. Đó là những bắp ngô, củ khoai, sắn hay mía trồng trên các nương rẫy cứ thơm ngon ai đi qua cũng phải hít hà.
Đồ nướng ở đây không chỉ đơn giản có thế, bạn có thể tìm mua cho mình những xiên thịt nướng từ thịt lợn cắp nách vô cùng hấp dẫn. Những xiên thịt nuớng Sapa vàng ươm đượm vị còn có cả da, nhưng không hề dai mà giòn, mềm, càng ăn càng ngọt. Bởi thế nếu đã nếm thử một xiên, chẳng mấy ai có thể cầm lòng mà đành phải gọi thêm vài xiên để ăn cho thỏa. Không chỉ được tẩm ướp gia vị sao cho vừa miệng, những xiên thịt ở đây còn được quấn kèm nấm kim châm trắng và rau cải mèo xanh, vừa hấp dẫn, đẹp mắt, vừa giúp đổi vị cho thực khách nhờ sự kết hợp tuyệt hảo của các đặc sản Sapa.
Trứng gà nướng hay cơm lam nướng cũng là một trong những đặc sản ở nơi này. Trứng gà luộc, cơm lam nấu chín sau đó đem nướng trên những ngon than hồng sẽ đem lại trải nghiệm đặc biệt về hương vị. Vào những buổi tối mờ sương, khi thị trấn đã lên đèn, trong ánh sáng nhập nhoạng chập chờn, dưới tiết trời lành lạnh, được ngồi nhâm nhi những món nướng ấm áp này thì chẳng còn gì bằng cả. Ngoài ra, món nướng còn có tôm, rau củ, hạt dẻ... chắc chắn sẽ làm từng thực khách hài lòng.

Rau cải mèo

Đến các bản xa trung tâm Sapa như Tả Van, Cát Cát… du khách no mắt bởi màu xanh mỡ màng của những luống rau cải mèo bên cạnh ruộng bậc thang thoai thoải. Cải mèo vốn thuộc hàng rau có bẹ, lá dài màu xanh đậm, viền lá xoăn cảm giác như có gai, loại có lông, loại trơn, đó cũng là lý giải cho cái tên là lạ của cải. Cải mèo cũng được coi là loại rau quý vì được thiên nhiên chọn lọc nên sức sống mãnh liệt, nó có thể vượt qua thời tiết mùa đông khắc nghiệt có băng ở vùng núi này và sinh trưởng khỏe, để có thứ rau đặc sản cho con người.
Cải mèo có vị ngon và giòn, nên được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau. Dù chế biến đơn giản hay cầu kỳ, người nấu thường vặn tròn để ngắt rau thành từng đoạn thay vì lấy dao thái, như vậy mới đảm bảo giữ nguyên hương vị ngọt tự nhiên của cải.
Cách chế biến đơn giản và được ưa chuộng nhất là thái nhỏ, giã gừng đổ nước vào đun sôi và sau khi nêm nếm là có một bát canh nóng hổi. Rau có thể nấu cùng với thịt gà băm nhỏ cùng gừng, nêm vừa mắm, muối, sẽ dễ cảm nhận chất ngọt của thịt gà hài hòa với cái ngọt mát, ngăm ngăm đắng của rau cải làm cho người ăn cảm thấy không bị ngán.

Rau cù khởi

Nghe cái tên vừa lạ lại vừa khó nhớ nhưng nếu nếm thử một lần rồi đảm bảo bạn sẽ chẳng thể nào quên được hương vị hấp dẫn của thứ rau dại (mọc ở hàng rào) trên mảnh đất Sapa đầy xa ngái. Trước đây, ở Sapa có rất nhiều loại rau ngon vì thế củ khởi ít mấy ai để ý đến nhưng nhờ có vị hơi đắng lại ngòn ngọt và mùi thơm đặc trưng nó lại trở thành một thứ đặc sản mà ai lên tới đây cũng muốn ăn thử và thích mang về.


Rau đậu Hà Lan

Nhắc đến đậu Hà Lan có lẽ người ta chỉ nghĩ đến việc thu hoạch quả và hạt nhưng ít ai ngờ rằng, thứ cây thân leo này cũng cho những ngọn rau ngon ngọt vô cùng. Chẳng thế mà người dân Sapa (Lào Cai) đã sớm biến nó thành loại rau đặc sản để bán cho du khách.
Rau đậu Hà Lan được trồng và mọc theo giàn, ngọn rất nhỏ nhưng mềm mang màu xanh nhạt mà non tơ. Thường người ra dùng loại rau này để nấu canh với thịt băm, xương… hoặc đơn giản chỉ là nấu suông nhưng ngon ngọt vô cùng.

Ngọn su su

Ngọn su su là loại rau rất phổ biến nhưng nó chỉ ngon khi được trồng các ở khu vực miền núi phía Bắc, nơi mùa đông có cái lạnh cắt da, cắt thịt hay mát mẻ vào mùa hè như Sapa chẳng hạn. Nếu một lần đặt chân đến Sapa, một màu xanh mướt của ngọn su su trập trùng bên các sườn núi sẽ ôm trọn tầm mắt của bạn.
Tuy là được trồng ở miền núi, nhưng rau cũng được người dân làm giàn cẩn thận, ngọn su su cứ thế mà leo lên, hưởng những ái ưu của thời tiết, của khí trời mà lan toả hết giàn này đến giàn khác, cứ bạt ngàn trong tầm mắt người ngắm. Và có lẽ cũng vì thế mà su su ở khu vực này mới ngọt hơn, giòn hơn nơi khác, mới thành thứ đặc sản mà ai đến đây cũng muốn mang về thưởng thức hay làm thứ quà biếu người thân, bạn bè.
Ngọn su su chẳng cần xào với các nguyên liệu khác cũng ngon. Chỉ cần nhặt sạch, cho vào xào cùng tỏi, mỡ, nêm chút gia vị là có thể thưởng thức ngay được. Hương vị của núi, của rừng, của những màn sương lạnh giá nhập nhoạng như mây cứ hòa quyện trong từng ngọn rau, chiếc lá.


Bánh chưng, bánh giầy lọt top 10 món ăn lễ hội TG

Bánh chưng, bánh giầy ngày Tết Việt Nam
Tạp chí National Geographic nhận định rằng, ngày Tết âm lịch Việt Nam vô vùng quan trọng, nó đánh dấu một năm cũ đã qua, một mùa xuân lại đến. Ngày Tết Nguyên Đán chính là thời điểm để đoàn tụ gia đình và ăn những bữa cơm sum họp. Trong những ngày này, hạt bí đỏ, ô mai trái cây, mứt… là những món ăn được đem ra mời khách. Hơn thế, bánh chưng và bánh giầy chính là những món ăn mang đậm tính truyền thống và đặc trưng cho bữa cơm ngày Tết.
Bánh chưng được làm từ gạo nếp có nhân là thịt lợn, đỗ xanh... và được gói trong lá dong. Bánh giầy được làm từ gạo nếp trắng giã mịn. Tương truyền, bánh chưng bánh giầy có từ đời vua Hùng thứ 8, những chiếc bánh chưng hình vuông tượng trưng cho mặt đất còn bánh giầy hình tròn tượng trưng cho bầu trời, tờ National Geographic viết.
Trong danh sách 10 món ăn truyền thống của National Geographic còn có nhiều loại bánh độc đáo khác như Bánh mỳ của người chết (Ngày lễ người chết – Mexico); Món Hákarl (Lễ Thorrablót Giữa mùa đông - Iceland); Bánh Trung thu (Tết Trung thu – Trung Quốc); Bánh Hamantaschen (lễ hội Purim của người Do Thái); Bánh Vua (ngày hội Mardi Gras); Bánh Bánh Besan Burfi (lễ hội ánh sáng Diwali - Ấn Độ); Bánh Kahk (ngày hội Eid al-Fitr - Ai Cập); Món Haggis (Đêm hội Burn - Scotland); Bánh cho ngày Cách mạng tháng 5 (Ngày độc lập Argentina). 



Đặc sản Côn Đảo: Hoang sơ mà hấp dẫn

Đến Côn Đảo, du khách không chỉ được tận hưởng nhịp sống yên bình, bãi cát trắng với làn nước biển trong xanh như trải dài vô tận và khi chiều xuống lại được tha hồ thả hồn dưới ánh tà dương rực rỡ. Không chỉ thế, những món ngon, đặc sản nơi đây còn khiến bao người bồn chồn phải dừng chân ghé lại và lúc chia xa cứ bịn rịn không rời.

Ốc vú nàng
Đây là loại ốc có tên gọi rất thú vị bởi hình dáng bề ngoài của nó tựa như đôi gò bồng đảo của người thiếu nữ đang độ căng tròn mới lớn. Ốc vú nàng có hình chóp nhọn, thẳng, với thịt ốc trắng nõn, vô cùng ngon mắt.
Nghe nói, ốc vú nàng chỉ sinh sống ở một số nơi như vùng biển Cù Lao Chàm, Đại Lãnh… và Côn Đảo là nơi thích hợp nhất để loại ốc kì lạ này sinh sản và trú ngụ. Ốc có quanh năm tại hòn đảo đầy thơ mộng này nhưng xuất hiện nhiều nhất vào những ngày trăng tròn, giữa tháng âm lịch.
Trước đây, những món ăn từ ốc vú nàng chỉ để dành dâng lên vua chúa, nhưng dần dần, với sự phát triển và sinh sôi, nó đã trở thành món ăn thường ngày của người dân và độc đáo tại đảo.
Cũng như nhiều loại ốc khác, ốc vú nàng có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon như luộc, nướng, trộn, hay gỏi. Nhưng nhanh và tiện lợi nhất vẫn là luộc. Ốc chỉ cần rửa sạch cho vào nồi luộc. Khi ốc chín, chỉ cần dùng dao nạy nhẹ lấy được thịt ốc ra khỏi vỏ, rửa sạch ốc rồi tưới thêm một lần nước sôi. Thịt ốc vú nàng từ màu trắng ngà chuyển sang màu vàng. Sau đó, bạn chỉ việc chấm ốc với muối tiêu chanh ăn rất giòn và ngọt.
Nếu may mắn, bạn sẽ còn được thưởng thức món ốc vú nàng vẫn đanng còn ngậm sữa thì sẽ cảm nhận được vị thơm ngậy, không thể lẫn được với loại ốc nào khác cả.
Sau một buổi chiều đi dạo dưới ánh hoàng hôn đỏ rực trên bãi biển trải dài mênh mông cát trắng, thưởng thức bát ốc vú nàng luộc hoặc bất kì một cách chế biến ốc nào khác tận hưởng những âm thanh êm dịu và của đất trời thì còn gì bằng nhỉ.
Vì thế, nếu tình cờ hay chủ ý có ghé lại nơi đây, bạn cũng đừng quá bất ngờ khi ai đó chợt đọc câu ca này nhé:
“Ai qua đất Thắm, Bãi Bàng
Hỏi thăm Ông Đụng, vú nàng lớn chưa?”
Mứt hạt bàng
Mứt hạt bàng là một đặc sản quà tặng mang đậm dấu ấn của Côn Đảo. Chỉ cần đặt chân lên đây, rời cảng Bến Đầm vài trăm mét, là bạn đã có thể thấy ngay hàng bàng mọc trên con đường ven biển và đi sâu vào đảo sẽ thấy, bàng được trồng đầy các con phố, góp phần phủ xanh và sầm uất hơn Côn Đảo trong những buổi bình minh lấp lánh hay rực rỡ hơn mỗi buổi hoàng hôn về.

Ở Côn Đảo, bàng có lá và quả rất to. Quả bàng chín nhiều nhất là vào mùa hè, tầm tháng 7, tháng 8. Khi những trái bàng chín, vàng rực, rụng xuống có mùi thơm vô cùng hấp dẫn. Khi ấy, công việc làm mứt hạt bàng lại được bắt đầu.
Người dân Côn Đảo đem quả bàng chín về phơi cho khô vỏ rồi tách lấy hạt. Công việc này không khó nhưng đòi người làm phải thật sự kiên trì vì có thể bạn ngồi vài tiếng cũng chỉ tách được mấy lạng hạt. Cũng từ những hạt bàng có màu nâu nhỏ bé ấy, người ta đem rang với muối hoặc đường tùy ý để làm ra hai loại mứt chính: Ngọt và mặn! Mỗi loại mứt có vị thơm ngon riêng mà chẳng ai nỡ chỉ mua có một thứ đem về thưởng thức.
Cua mặt trăng
Đúng như tên gọi, loại cua mặt trăng này có hình dáng rất lạ, trên lưng cua có nhiều hình tròn màu đỏ đậm, pha vào màu hồng tươi. Vì những hình thù trên lưng cua tròn, nên người dân trên đảo đặt tên cho nó cái tên rất lạ là cua mặt trăng. Và cũng có lẽ, với hình dáng khác lạ như thế, cua mặt trắng sớm trở thành thứ đặc sản trên mảnh đất hoang sơ, mọi thứ đều bình lặng ngoại trừ những tiếng sóng biển rầm rì, than thở ngày đêm này.
Loại cua này sống bám theo vách đá và cứ đến ngày trăng lên, cua thường ốp, nhiều nước thịt không ngon. Nhưng khi vào chu kỳ, thịt cua rất ngọt, thịt thơm lôi cuốn bất cứ ai thưởng thức.
Đặc biệt, khi cua được luộc chín, màu sắc đỏ rực của nó chắc chắn sẽ “đốn ngã” dạ dày của bạn. Tuy nhiên, nó cũng chẳng phải là món ăn dễ dàng chinh phục bởi vỏ cua cứng đến nỗi bạn phải sử dụng dụng cụ chuyên đập cua mới có thể thưởng thức lớp thịt cua trắng ngần, thơm nức đang chờ đợi dưới lớp vỏ đầy thách thức này.
Thịt cua chấm với muối tiêu chanh ăn thật tuyệt. Tuy nhiên, người dân nơi đây còn dùng cua để chế biến thành các món ăn khác như làm lẩu, nấu canh, bún hoặc dùng thịt cho vào bánh canh… Mỗi món tuy cách chế biến khác nhau nhưng tựu chung lại, chúng trở nên ngon hơn, độc đáo hơn, ngọt ngào hơn bởi có hương vị của loại cua kỳ lạ này.

Mắm nhum
Côn Đảo không chỉ nổi tiếng với mứt hạt bàng, cua mặt trăng, hay ốc vú nàng mà đến đây, bạn có được thưởng thức một loại mắm vốn nổi danh là mắm quý tộc, mắm nhum. Nhum vốn là con nhím biểm, có kích thước bình thường, thịt nhum không nhiều, cũng chẳng dễ đánh bắt ấy vậy mà lại cho ra thứ mắm màu đỏ đục vô cùng hấp dẫn. Khi dùng mắm nhum để chấm các món luộc hay bánh tráng cuộn, ta sẽ dễ dàng nhận ra vị ngọt của thịt nhum tan tỏa khắp đầu lưỡi, một chút vị mằm mòi của biển, chua chua, bùi béo.